Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

TRẦN NGỌC TUẤN : LỜI THỀ HOÀNG SA




Lý Sơn cát trắng sóng lừng
Thiêng liêng mộ gió nghìn trùng tái tê
Tháng hai còn Lễ Khao lề
Đinh ninh còn đó lời thề Hoàng Sa …

TRẦN NGỌC TUẤN 

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011

TRẦN NGỌC TUẤN : NGUYÊN SA - TRONG MÀU ÁO TƯƠNG TƯ


    
       NGUYÊN SA – TRONG MÀU ÁO TƯƠNG TƯ


     Màu áo tương tư có thể là màu hoa học trò trong sân trường thẹn thò, bỡ ngỡ : Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc – áo nàng xanh tôi mến lá sân trường – sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương – tôi thay mực cho vừa màu áo tím…

     Màu áo tương tư có thể là màu lụa trắng trong một ngày mà mùa thu dài lắm ở chung quanh : Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát – bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông – anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng – thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng…

     Màu áo tương tư có thể là màu mây trắng trong một chiều thu nhè nhẹ heo may : Có phải em mang trên áo bay – hai phần gió thổi một phần mây – hay là em gói mây trong áo – rồi thở cho làn áo trắng bay?

     Màu áo tương tư có thể là màu sương mù trong một sáng xuân Paris diễm lệ : Paris có gì lạ không em? – mai anh về giữa bến sông Seine – anh về giữa một dòng sông trắng – là áo sương mù hay áo em?

     Màu áo tương tư huyền ảo trong một lần tiễn biệt : Người về lòng tôi buồn hay lòng tôi vui – áo không có màu nên áo cũng chưa phai – tôi muốn hỏi thầm người, rất nhẹ : - tôi đưa người hay tôi đưa tôi?



TRẦN NGỌC TUẤN

Ghi chú : những chữ in nghiêng được trích từ thơ của nhà thơ Nguyên Sa 

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

TRƯƠNG ĐẠM THỦY : TRONG NGẦN SUỐI REO (ĐỌC THƠ TRẦN NGỌC TUẤN)






TRONG NGẦN SUỐI REO



TRƯƠNG ĐẠM THỦY



(Nhân đọc tập thơ Suối reo, NXB Hội Nhà Văn 2006 của nhà thơ Trần Ngọc Tuấn)



Có một người thơ đã gây ngay ấn tượng nơi tôi dù chỉ mới lần đầu gặp gỡ: nhà thơ Trần Ngọc Tuấn. Anh trao tôi tập thơ Suối reo (NXB Hội Nhà văn) với một nụ cười. Tôi nghĩ: “Anh chàng này xem có vẻ tình tứ lắm, chắc đây là một tập thơ tình thuộc loại lãng mạn”. Nhưng khi mới mở trang đầu tập thơ Suối reo tôi mới biết mình lầm.



“Lên đồi Tịnh Độ” là bài thơ đầu tiên như một lời dẫn (thay cho lời tựa) về toàn bộ nội dung của tập thơ. Hóa ra đây là tác phẩm của một… “Con nhà Thiền”. Hèn chi Trần Ngọc Tuấn tặng thơ đi kèm với nụ cười hỉ lạc dường ấy! “Sáng nay lên đồi Tịnh Độ/ Giọt sương tan trên lá xanh/ Trưa nay lên đồi Tịnh Độ/ Nghe cây chuyển nhựa lên cành/ Chiều nay lên đồi Tịnh Độ/ Mây vàng từng áng mong manh/ Tối nay lên đồi Tịnh Độ/ Trăng non đầu núi an lành”. Cõi Tịnh Độ là cõi Tây phương cực lạc, nếu như ai từ sáng đến đêm nhất tâm bất loạn trì niệm, có ngày sẽ được nhìn thấy ao báu, cây báu, lưới báu, chim báu… nơi cõi ấy như lời kinh dạy.



Có lẽ những hành giả chuyên hành pháp môn Tịnh Độ mới thấy được giọt sương tan trên lá, nghe được sự chuyển động của dòng nhựa trong cây, mới nhìn được áng mây vàng phiêu hốt ban chiều, ánh trăng non sáng soi đầu núi…



Cái đẹp hồn nhiên của cuộc sống như sương, như cây, như mây, như trăng… coi vậy mà đâu phải ai cũng nhận ra nếu như cả đời cứ chạy theo tình – tiền – danh – lợi…



Mỗi năm tôi chỉ gặp Trần Ngọc Tuấn một vài lần, có lúc ngồi quán cà phê, cũng có khi lãng đãng phong trần nơi quán bia ta bà. Nhưng hình như Trần NgọcTuấn không phải là trà khách hay tửu khách như bạn bè mà anh đến những nơi đó như một chốn để thể nghiệm bản thân. Có nghĩa là làm sao uống mà không say, nói cười mà không dung tục. “Trăng tự sáng giữa tầng không/ Suối tự chảy giữa mênh mông đất trời/ Kìa ai bất chợt tự cười/ Trái tim tự hát lẽ đời tự nhiên” (Tự nhiên). Có nghĩa là thõng tay vào chợ, thấy thịt ôi, cá ươn mà cũng chẳng sinh lòng đố kỵ, hòa cùng cát bụi mà chẳng đồng với cát bụi. Một khi lòng đã thanh tịnh thì mọi thứ chung quanh đều lung linh một hình ảnh lạ: Có thể thấy trăng giữa ban ngày, suối reo giữa chợ, nghe tiếng cười trong lặng lẽ, tiếng hát từ trái tim bình an…Đó là cảnh giới của Đạo và Thơ.



Cứ mở từng trang thơ, đọc dần dần tới lại thấy chân trời thơ của Trần Ngọc Tuấn dần mở rộng ra mới mẻ hơn, rạng rỡ hơn, tịnh yên hơn… “Chẳng chấp gì bé lớn/ Một mình nghe lặng thinh/ Mây trên đầu luẩn quẩn/ Ông ngồi câu bóng mình” (Ngồi câu). Ngồi câu thì chắc là câu cá. Cá lớn cá bé ai mà biết trước đặng. Nhưng “ông lão” ở đây hình như chẳng hề ôm cần ngồi chờ cá đớp mồi dưới ao bèo mà ông đang câu…những tạp niệm, vọng tưởng của chính mình. Mây trên đầu còn luẩn quẩn thì mây dưới chân cũng luẩn quẩn, bóng mây dù nhợt nhạt vẫn che được trăng sao. Người thơ nầy đang ngồi thanh lọc tâm, thơ hay như bài kệ.



Ưu tư, thắc mắc là tâm trạng của nhân gian. Ưu tư, thắc mắc mà không lý giải được điều mình muốn biết nên phải…hỏi thăm. Hỏi thăm ta có hay không, ta từ đâu đến rồi sẽ đi về đâu, cõi nào? “Hỏi thăm người trốn chơi xa/ Mà sao râu tóc phôi pha bụi trần/Hỏi thăm người biệt giai nhân/ Mà sao nhan sắc tần ngần ngóng trông/ Hỏi thăm người có hay không/ Mà sao chuông vọng âm âm gió mùa”(Hỏi thăm).



Triết lý Phật giáo chảy suốt trong dòng thơ phơi phới của nhà thơ Phật tử Trần Ngọc Tuấn. Có và không- Không và có là những phạm trù bí nhiệm mà con người ít ai thấu đạt được nó. Bởi nghi tình ấy rất dễ làm ta vấn vương tư lự. Có người đi chơi xa không? Có giai nhân từ biệt không? Có ta không? Nếu không thì ai râu tóc phôi pha, ai tần ngần nhan sắc, ai nghe chuông vọng âm âm gió mùa? Còn nếu có thì người ấy, giai nhân ấy và tiếng chuông ấy giờ sao chẳng thấy?



Vẫn vịn vào triết lý có- không lại thấy nhà thơ dấn thân sâu hơn nữa trong cảm xúc trên con đường thơ Thiền bát ngát: “Bạn mới tìm chưa thấy/ bạn cũ ngày thưa dần/ Vui còn đôi cánh bướm/ Vẫn rập rờn trước sân”. Cái sắp tới thì chưa thấy. Cái đã qua thì qua rồi. Cả hai cái tâm vị lai là quá khứ đều không thật. Chính cái hiện tiền, cái bây giờ – ngay – tức – thì mới thật . Đâu phải không có gì là không ngờ, vẫn còn đôi cánh bướm rập rờn ngoài sân đó. Câu thơ nầy gợi nhớ đến câu thơ của thi sĩ – thiền sư Mãn Giác: “Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết/ Sáng nay sân trước một cành mai”.



Thiền mang đến cho nhân sinh một cái nhìn đầy thi vị vào chính cuộc sống nhiều bất trắc của kiếp người. Thiền làm cho cuộc sống thăng hoa. Một đôi bướm đẹp, một đóa hoa thắm sương trước sân, há chẳng là điều hạnh ngộ?



Thong dong tự tại tức là trạng thái của tâm giải thoát. Bài thơ “Trà sớm” sau đây cho thấy Trần Ngọc Tuấn đã đi đến một cung đường mới: “Qua đêm phiền não tan rồi/ Ấm ly trà sớm ta ngồi với ta/ Hiên ngoài vài giọt sương sa/ Tan trên chồi biếc chan hòa nắng mai”. Khi tâm phiền não đã lắng thì niềm hỷ lạc tự hiện. “Lắng nghe gió thoảng qua cây/ Cành non lộc nhú lá bay la đà/ Vội gì sự sự đều qua/ Hai tay nâng một chén trà mừng trăng” (Mừng trăng). Cũng như thế, khi cái tâm mây mờ tan thì trăng tròn đầy tự hiện, trăng có mất đi hồi nào?



Càng về cuối tập thơ người đọc càng thấy Trần Ngọc Tuấn phơi mở cái thế giới nội tâm an lạc của anh: “Đất trời nắng nắng mưa mưa/ Hằng tâm tĩnh lặng mùa mùa an cư” (Niệm). An cư đâu chỉ là ba tháng Hạ? Mưa nắng, nắng mưa là chuyện của đất trời miễn sao tâm vẫn tĩnh lặng thì gió vô thường tự gió, giờ nào, ngày nào, mùa nào ta cũng đều an trú giữa mùa an cư nhàn hạ, vô vi, vô sự…



Thật khó nhận ra Trần Ngọc Tuấn vốn là một nhà doanh nghiệp năng động, có bè bạn khắp bốn phương trời, lịch lãm trong các mối giao tiếp, tiệc tùng, hò hẹn…Vậy mà nay Trần Ngọc Tuấn thôi bia rượu, lỡ có gặp bạn, anh cũng tìm cách để môi thôi chạm điếu thuốc, cốc bia… Sự sôi nổi của anh năm xưa nay gần như biến mất, chỉ còn lại nụ cười hiền hòa để đáp tạ lại sự mời mọc ân cần của anh em. Trần Ngọc Tuấn không khác về con người, vẫn mặt mày ấy, vóc dáng ấy nhưng qua ánh mắt, cử chỉ của anh người đối diện nhận ra anh đang có một cuộc sống nội tâm còn sôi nổi hơn cái cung cách bên ngoài ngày xửa ngày xưa ấy. “Lục bình nở tím dòng thơ/ Đò ngang một chuyến ai chờ qua sông (Qua sông). “Qua sông” như thuật ngữ của Phật giáo là chỉ sự giác ngộ, sự thức tỉnh, sự chuyển hóa từ một thực tại này sang một thực tại khác. Trần Ngọc Tuấn “Tự bạch” về một thực tại của riêng anh, một thực tại mà chỉ một mình anh biết một mình anh hay. Một bài thơ khác, bài “Người về với thơ”: Mừng người về lại với ta/ Bao phen nắng tưới mưa sa mịt mờ/ Mừng người lại về với thơ/ Hồn nhiên câu chữ ngu ngơ điệu vần/ Mừng người về lại chân thân/ Một dòng nước lặng trong ngần suối reo”. Mừng điều gì, có gì mới mẻ chăng? Không. Chỉ mừng cái sự tái ngộ lại cái ban đầu, cái “bản lai diện mục” của chính mình, cái hồn nhiên tĩnh lặng của thuở ban sơ. Đó là tiếng reo trong ngần trong dòng suối tâm thức của một người đã tự tri, tự tại, tự do trong cõi vô thường…

TRƯƠNG ĐẠM THỦY

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

TRẦN NGỌC TUẤN : NGUYỄN TRỌNG TẠO - NGỒI HÁT ĐỒNG DAO









NGUYỄN TRỌNG TẠO – NGỒI HÁT ĐỒNG DAO

Thi sĩ bất chợt xuất hiện như một khóa sol trên năm dòng kẻ. Những nốt nhạc trên năm dòng kẻ du dương như năm ngọn gió, như năm cánh sóng phập phồng mơn man. Những nốt nhạc trên năm dòng kẻ trầm buồn như năm bài ví dụ… Khởi đầu: gửi em điểm hẹn không tên – người lên đỉnh ngọ bỏ quên bóng mình… Tiếp theo: có nàng thục nữ phòng không – ngó qua cửa khép hoa hồng thơm chay… Rồi đến: cho anh một mảnh trời xanh – trời thành hồ biếc anh thành cù lao… Thêm nữa: con đường từ ghét đến yêu – đỏ đen sấp ngửa liêu phiêu một đời… Và cuối cùng: có nàng lạ lạ quen quen – mở thơ anh đọc rồi quên qua đò…

Thi sĩ bất chợt xuất hiện như gã nhà quê ngác ngơ giữa phố nghêu ngao mấy khúc đồng dao cho người lớn: có con người sống mà như qua đời – có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi… Thi sĩ lang thang, đơn độc – bước trên đường Không Tên; có không một nàng Hạnh Phúc - ở số nhà Lãng Quên lắng nghe thi sĩ hát mấy khúc sonnê buồn? Chia cho em một đời tôi – một cay đắng, một niềm vui, một buồn…Chia cho em một đời say – một cây si, với, một cây bồ đề…Chia cho em một đời thơ – một lênh đênh, một dại khờ, một tôi…

Thi sĩ bất chợt xuất hiện giữa làng quan họ như một liền anh thấy đẹp là mê – thấy ghen là sợ thấy quê là nhà. Sau phút giây giã bạn, thi sĩ không quên: ước chi đến hẹn người ơi…dẫu mơ hồ biết rằng ngày mai: Em bỏ tôi đi dằng dặc mùa đông – Tôi tìm gầy guộc gặp em bạc lòng.

Thi sĩ xuất hiện như một gã biết chơi; chơi đến tận cùng ý tưởng, chơi đến quên hết mọi rủi ro thường nhật…Thật ra cuộc đời cũng là một cuộc chơi, cuộc chơi sinh tử. Với tâm thế: Ngoài kia trời đất giao thân – Tôi còn mắc nợ giai nhân một đời và hơn thế nữa: Ở trên cao biết mình là con nợ - Khi nước dưới đất nâu thương nhớ chảy lên trời, thi sĩ nương thân vào cõi tạm mà chơi, chơi đến giọt cuối cùng…

TRẦN NGỌC TUẤN

*Ghi chú: những chữ in nghiêng được trích từ thơ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

TRẦN NGỌC TUẤN : TRẦN NINH HỒ - KIẾP NGƯỜI THẤP THOÁNG TRĂM NĂM






TRẦN NINH HỒ - KIẾP NGƯỜI THẤP THOÁNG TRĂM NĂM

Thi sĩ xuất hiện như một điềm lành. Đọc thông điệp thơ để mà buồn vui, để mà ngẫm ngợi : Một ngày thu cho ánh vàng thức dậy – ôi ánh vàng thức dậy một đời cây! . Một ngày thu, một đời cây hay một kiếp người ! CHÂN – THIỆN – MỸ là khát vọng thường trực khi thi sĩ hành hương về ngôi đền thơ linh thiêng. Trong cuộc hành hương ấy đôi khi thi sĩ chạm tới cõi vật chất để nhận ra : hình như là tiếng sáo – sinh ra trước mũi tên – hình như là ngọn giáo – sinh ra sau cây đàn; chạm tới cõi tâm linh để sững sờ: thời gian trôi kiếp lục bình – từ hồng hoang chẳng biết mình về đâu. Về đâu? Về với cõi trần thế đếm đong còn mất hay về với cõi thơ như hồng ngọc sâu trong đất? Đi đâu? Về đâu? Đi từ cuộc đời này và nơi đến cũng cuộc đời này để đau thương và hạnh phúc, để chợt nhớ một thời thơ – chưa kịp viết đã cũ – chợt nhớ những chồng vợ - không một ngày tình nhân…



Trên con đường dấn thân ấy đôi khi bói nhầm quả - giờ nhiều tinh dầu lạ - có cất từ hoa đâu! . Nhận chân thế là đủ giữa cuộc đời rất đẹp nhưng cũng rất đỗi gập ghềnh này để rồi thao thức: bôi và xóa mãi rồi ta đâu biết – giấy như mây trắng lắm phía chân trời. Cõi nhân sinh này sao mà khốc liệt đến vậy: chừng khiếp sợ trước phụng thờ quá cỡ - những đóa hồng nhợt nhạt giữa trầm hương; nhưng may mắn quá còn một Vầng Thúy đó – một vầng trăng hóa đá đợi ta về. Vầng Thúy, Núi Thúy hay Núi Thơ cũng là một thôi mà! Về núi để mà chi? Để đề thơ trên đá hay để hát nghêu ngao: buồn như lau cũng một thuở làm cờ…

TRẦN NGỌC TUẤN

*Ghi chú : những chữ in nghiêng được trích từ thơ của nhà thơ Trần Ninh Hồ

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011

PHẠM QUANG TRUNG : ĐỌC THƠ TRẦN NGỌC TUẤN






ĐỌC THƠ TRẦN NGỌC TUẤN

PHẠM QUANG TRUNG

Trần Ngọc Tuấn là một cử nhân kinh tế. Tưởng anh suốt ngày bị những con số ám ảnh, những tính toán dẫn dắt, chả thể nghĩ và làm được điều gì khác. Hóa ra không phải thế. Anh đã vượt qua bao ngáng trở, thách thức trong tư duy, trong phận sự để trở thành một nhà thơ – nhà thơ đúng nghĩa theo thiên hướng, theo số phận. Hành trang thơ anh mang theo cho đến nay kể cũng kha khá. Chưa tính những tập in chung, bốn tập thơ riêng ngay ngắn đã chào đời. Đó là Giác quan biển (1994), Giữa cỏ (1996), Chân chim hóa thạch (1998), Con mắt dã quỳ (2000). Cứ đều đặn hai năm một tập, sức viết cũng chẳng thua kém ai.
Anh khởi nghiệp ở Biên Hòa. Nhiều cây bút như Trương Nam Hương, Lương Định, Cao Xuân Sơn… cũng từng đi những bước đầu tiên trong sự nghiệp của mình ở xứ này, để rồi hòa nhập vào thi đàn một cách khá chững chạc đường hoàng. Rồi kẻ trước người sau, vì những nguyên do khác nhau, họ lần lượt rời dòng sông Đồng Nai ra đi, nhưng lòng họ thì tôi biết, luông đằm mình trong dòng sông thân thương ấy. Trụ lại đến giờ, về thơ, nổi lên là Đàm Chu Văn và Trần Ngọc Tuấn.
Những con chim trốn rét đã bay rồi
Để mùa đông ở lại

Dòng sông trôi
Trôi mãi
Biết đâu là mênh mông
Trong một bài thơ Đàm Chu Văn viết tặng Trần Ngọc Tuấn, tôi đọc được đoạn ấy. Đàm Chu Văn như tự nói với chính mình. Hướng tới bạn mà nói. Thế là tôi lần tìm đến thơ các anh để đọc, với mong mỏi tìm hiểu về một vùng thơ. Trước hết là thơ Trần Ngọc Tuấn.

1- CHO TÂM THANH BẠCH GIỮA MIỀN PHÙ HOA

Trần Ngọc Tuấn sống ở một trong những trung tâm công nghiệp lớn vào bậc nhất nước.Nhịp sống phố phường nhân lên bởi nhịp sống công nghiệp. Sôi động và năng động. Con người dễ bị cuốn theo dòng chảy của nó. Đôi khi ta không khỏi ngơ ngác trước sự đổi thay đến chóng mặt của đời thường:
Hỏi em – Em đã đi rồi
Hỏi nhà – Đổi chủ
Hỏi người – Người quên
Hỏi đường – Đường mới thay tên
Hỏi cây – Cây đứng lặng nhìn xa xôi
Câu kết của bài thơ thảng thốt đến rợn người: Hay tôi đã hóa ai rồi? Hoài nghi sự tồn tại của mình, còn gì bi thảm hơn thế? Bởi vậy, tôi có thể hiểu được nỗi cô đơn của một người nhạy cảm như anh:
Xòe năm ngón cô đơn
Che mái đầu phiền muộn
Năm ngón như sao trời
Soi hồn ta lốm đốm
Đừng có e ngại. Ý thức được nỗi cô đơn là sẽ biết cách để chế ngự được nó. Nhưng sao cứ thấy xót xa làm vậy! Bởi chế ngự được nỗi cô đơn mà không buông mình, mất mình giữa dòng đời trôi nổi mới là chỗ cần phải đến. Xem kìa, có người không chịu nổi, đã hóa điên: Có một gã điên / Ra sông uống nước / Phố phường thờ ơ / Thân quen ơ hờ / May còn dòng sông / Hiểu gã lơ mơ… Vâng, may còn dòng sông. Tôi có nhiều dịp hàn huyên cùng bạn văn ở Biên Hòa. Hoặc là về chiều, hoặc là về đêm.Và bao giờ cũng thế, ngay cạnh dòng sông ấy:
Bóng hoa một thoáng vờn chân
Sông bần thần chảy, nắng ngần ngừ tan.

Mỗi khi nhớ về các bạn ở Sông Phố, tôi lại ngâm nga bài Những buổi chiều bên sông Đồng Nai của Trần Ngọc Tuấn. Nhớ nhất là câu:
Người lơ ngơ giữa mây trời
Tôi cơn gió lạ không mời mà sang
.
Tôi nhận ra ngay dáng lơ ngơ đáng yêu của chính anh chứ đâu phải của người khác. Riêng cơn gió lạ thì không sai, đúng là anh rồi! Cũng rất đúng với những tâm hồn nghệ sĩ như anh. Tôi cứ bần thần tự hỏi, thành phố Biên Hòa sẽ ra sao nếu không có dòng sông êm đềm kia, và cả những cơn gió lạ này nữa – cơn gió thổi đến từ thơ ca, do chính thơ ca đem lại. Anh có lý để viết:
Ẩn mình trong cõi thiên nhiên
Lặng thầm gửi đóa trinh nguyên cho đời.
Người ta thường ưa thích những gì mình không có hay mình còn thiếu. Giữa đô thành náo nhiệt, cảnh trí thiên nhiên là cái thiếu nhất. Để tìm được sự bình lặng về tinh thần, ta phải tìm đến núi sông, trăng hoa, cây cỏ… Tôi biết vì lẽ gì mà Trần Ngọc Tuấn lại đặt tên tập thơ thứ 2 của mình là Giữa cỏ với lời đề từ:
Có những giấc mơ hóa bướm
Tôi chỉ mong là cỏ dưới chân đèo
.
Rồi ngay việc chọn tên cho tập thơ mới nhất, anh cũng đã tìm đến Con mắt dã quỳ, với tuyên ngôn thể hiện một xác tín không kém:
Biết thân hoa dại bên đình
Cũng xin vắt kiệt hồn mình mà thơm

Chớ cho là tầm thường, cái thân phận của cỏ dại, hoa dại. Cách đây vài tháng, tôi được hưởng một hạnh phúc bất ngờ khi đắm mình trong phòng trưng bày 110 bức ảnh nghệ thuật về hoa dại của nghệ sĩ nhiếp ảnh MPK. Ở thành phố tôi ở, chả ai lạ gì cái anh chàng suốt ngày lang thang khắp ngóc ngách của Đà Lạt. Anh đi săn lùng cái đẹp, những cái đẹp nhỏ nhoi, dễ bị bỏ qua trong con mắt của người đời. Với Trần Ngọc Tuấn, chắc chắn còn thêm những nguyên cớ khác. Nếu không sao anh lại có thể viết:
Lạy hừng đông tới đêm tàn
Có nghe tôi lạy giữa miền cỏ ru
Nguyên cớ ấy có lẽ nằm ở câu mở đầu:
Lạy em giũ sạch muộn phiền
Cho tâm thanh bạch giữa miền phù hoa
Tôi còn tìm thấy trong câu thơ khác ở bài thơ Nhớ thị thành:
Ai thiền định giữa phù hoa?
Ai đang đốn ngộ? Ai sa bụi lầm?
Tâm có trong sạch mới có thể tĩnh tâm mà cảm nhận được những cái mong manh vô thường dễ biến mất như ánh trăng này:
Trăng leo qua đỉnh Tháp Chàm
Gió ơi gió… nhẹ, kẻo làm trăng rơi!

Hay dễ bay như mưa bụi kia:
Mỏi gót về ngồi bên Thành Nội
Cụng ly cùng mưa bụi Hoàng Cung
Anh sung sướng đến đê mê khi qua đêm bên Suối Lồ Ồ, là bởi:
Bôn ba qua xứ muộn phiền
Mấy khi thỏa giấc giữa miển cỏ hoa

Quả đúng là xứ tiên giữa cõi trần. Phải là một người từng bị bụi hồng bao phủ như anh mới thấm thía được nỗi thanh thản nhường ấy.

2 – PHIÊU DU TÀI TỬ ĐA ĐOAN KHỐI TÌNH

Đây là câu thơ Trần Ngọc Tuấn viết về thi sĩ Tản Đà mà sao tôi nghe như anh đang biểu hiện chính con người mình. Nghĩ về anh, và cả về thơ anh, chừng như không thể nghĩ khác. Ngày bận rộn bao chuyện cơm áo đời thường, anh thức cùng đêm. Những câu thơ bừng sáng : Đêm / chữ thắp lửa / lóe trang / bập bùng. Tâm hồn anh như hoa quỳnh ngậm nắng để có thể bừng sương vào đêm vắng. Tìm đến thơ hay, cái hay của thứ thơ đích thực kia, anh biết chẳng dễ dàng gì. Nhất là giữa lúc này :
Chợ văn sớm nắng chiều mưa
Mua danh dơ dáng, dạ thưa dại hình

Chỉ những ai nguyện sống chết với nghề thì mới ngổn ngang trong lòng trước chợ trời văn chương, chữ nghĩa đến thế. Và tôi nghĩ là Trần Ngọc Tuấn đã tìm được câu trả lời xác đáng :
Thơ như điệu múa ẩn mình trong đá
Nghìn năm không xóa nổi nét tay run
Người ta hay nói tới khả năng lạ hóa của thi sĩ. Hóa lạ mọi thứ để tay run. Muốn được vậy, anh phải biết lắng nghe tiếng nói của lòng mình, khi được thật sự là mình.Trần Ngọc Tuấn Tự vấn một cách chân thực: Sông mải miết / Mơ giấc mơ biển cả / Khi là biển rồi / Sông có là sông?. Vận vào mình, anh viết tiếp: Tôi lênh đênh / Mơ ngày cập bến / Khi cập bến rồi / Tôi có là tôi? . Tìm được mình rồi, lại phải lo giữ mình nữa chứ. Nhưng trước hết và trên hết là nỗi lo sợ chính đáng này:
Ta chỉ sợ tâm hồn ta lịm tắt
Giọt mực buồn lăn lóc giữa trang thơ
Thế là, rất tự nhiên, Trần Ngọc Tuấn đi tìm sự giao cảm trong tình yêu :
Nợ người con mắt lá răm
Trái tim xin trả trăm năm ngục tù
Nhất là anh đi tìm sự sẻ chia trong tình bạn. Có lúc anh lớn tiếng tuyên bố :
Ta chỉ sợ bạn bè ta lạnh nhạt
Đôi mắt dửng dưng là bản án tử hình
Có lẽ vì cường điệu quá nên khó tin. Tựa như một lần anh có dịp Uống rượu ở Tây Nguyên. Khi đãi khách phép làng rượu cần sánh ché / Trinh nữ nai hoang mắt ướt ngực trần, anh không ngần ngại cao hứng bày tỏ : Xin đổi nửa đời một đêm gửi rể, và đã được (hay bị) Già làng khề khà : - Kẻ chợ khó tin. Kể ra cũng khó tin thật ! Trong văn chương cũng như trong cuộc đời, mọi thứ đều cần có chừng có mực. Kẻ thông minh bao giờ cũng nhạy cảm với giới hạn. Vượt quá độ, người ta dễ sinh nghi. Riêng câu thơ này thì không thể nghi ngờ :
Bao người đến, bấy trái ngang
Tôi xin làm suối giải oan cho mình
.
Một người đàn ông cao thượng. Riêng cho một người anh ta hiểu. Hoài nghi anh sao được ! Tội chết. Đặc biệt, tâm trạng được giãi bày trong bài Vẽ núi thì tôi chắc mọi người cũng sẽ tin như tôi:
Bạn đi gửi lại tiếng cười
Tôi ngồi vẽ núi lạnh mười ngón tay
Có người thích những câu thơ tài hoa của Trần Ngọc Tuấn như: Em như sông Hương lững lờ chi rứa / Tôi chôn chân thêm mố nhịp Tràng Tiền. Tôi thì thích những câu thơ rút ruột, trần trụi mà rung động này : Trắng đêm vàng mắt dã quỳ / Giọt sương hạt lệ nhòe đi mặt người. Anh viết về nỗi đau mất bạn. Mà người đó là ai ? Là Nguyễn Đức Thọ, một nhà văn mệnh yểu, nhưng tôi dám chắc văn sẽ thọ, vì lúc còn sống anh biết vì người khác, nên khi mất, người đời sẽ không quên anh.
Nghĩ về bạn văn, với Trần Ngọc Tuấn, là một dịp nghĩ về mình :
Bạn giờ dằng dặc trăng treo
Tôi còn thất bát gặt gieo vụ đời
Nhất là dịp tốt để nghĩ về đời văn của mình :
Bạn giờ xanh cỏ nghìn năm
Tôi còn lận đận kiếp tằm nhả tơ
Ý thơ không mới, nhưng ý nguyện thì đáng trọng. Bạn bè hoàn toàn có thể kỳ vọng vào anh…

Đà Lạt, 4-2003

PHẠM QUANG TRUNG

*Bài viết được đăng trong tác phẩm THỨC CÙNG TRANG VIẾT (PHẠM QUANG TRUNG) NXB VĂN HỌC, 2003.


Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

NGÔ THẾ OANH : GIỚI THIỆU THƠ TRẦN NGỌC TUẤN






GIỚI THIỆU THƠ TRẦN NGỌC TUẤN

NGÔ THẾ OANH

Khác với nhiều người làm thơ cùng lớp tuổi với anh thường thiên về lý, tìm kiếm trong đề tài cũng như ngôn ngữ những gì vẫn được gọi là cách tân, hiện đại, thơ Trần Ngọc Tuấn thoáng gợi niềm hoài cổ. Nét thoáng gợi này thấm đượm trong ý tứ cảm xúc, trong lời lẽ. Theo cách phân định của người xưa về đường đời, Trần Ngọc Tuấn đã qua tuổi tam thập nhi lập, nhưng chưa đến tứ thập nhi bất hoặc. Anh sinh năm 1964. Ở thời chúng ta, tuổi ấy vẫn còn thanh xuân.Song, trong thơ Trần Ngọc Tuấn, ta như luôn bắt gặp cái nhìn của một kẻ muốn nhập thiền.



Ai tất bật với thăng trầm xuôi ngược
Người ung dung dõi mắt phía chân trời
.



Trần Ngọc Tuấn viết trong một bài tứ tuyệt. Điều này phần nào cắt nghĩa tác giả của Giữa cỏ (Nhà xuất bản Văn hóa –Thông tin - 1996) và Chân chim hóa thạch ( Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin – 1998) luôn tìm thấy an ủi ở thiên nhiên, ở những bậc tiền nhân. Một thiên nhiên và những bậc tiền nhân bao giờ cũng ẩn chứa nhiều độ lượng cùng một nỗi buồn. Phần nào điều này làm nên hồn thơ anh.



Hình như người miền Nam thường dành hai tiếng tài tử cho những người yêu cái đẹp, yêu chất thơ của đời sống hoàn toàn vô tư, đến với nghệ thuật mà không mong tìm kiếm gì cho những ảo tưởng. Những vần thơ Trần Ngọc Tuấn gợi cho ta phong vị tài tử ấy.


NGÔ THẾ OANH

* Bài viết đã được đăng trên Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội số 7 – 2000 .